Cái Gì Là Cái Của Ta?

Có quan niệm cho rằng người tu hành theo Phật Giáo không có sở hữu, vì nếu sở hữu thì nó còn cái của tôi, tức còn cái tham, cái bản ngã, do đó cần phải xả ly đi không còn sở hữu nữa mới đi đến giải thoát. Vậy một câu hỏi đặt ra là nếu hiểu biết như vậy thì đã có ai làm được điều đó chưa? Nếu không có sở hữu thì tại sao Đức Phật lại hỏi ” Cái gì là cái của Ta?”.

Nếu như hiểu theo quan niệm vừa nói ở trên thì bậc tu đó tu muôn kiếp cũng chưa Giác được chứ đừng nói chi tới Giác Ngộ mà giải thoát. Vì nó đã bị hiểu sai từ đầu, chính vì nó sai nên hiện nay bậc tu Phật rất đông nhưng không có nổi một vị Giác Ngộ là như vậy. Tôi sẽ đưa ra phân tích của mình bên dưới Ông/Bà cùng nhau theo dõi tiếp.

Đầu tiên bậc tu bị chấp vào văn tự hai chữ Sở Hữu: Tức là cái đó là cái của tôi, tôi là người quyết định được số phận của nó, lấy ví dụ cụ thể là mình có một chiếc xe máy, trên giấy tờ liên quan gắn liền với xe đó có thông tin chính chủ là mình. Mặc định mình sẽ hiểu rằng mình sở hữu được chiếc xe đó và mình có quyền bán hoặc cho hoặc tiêu hủy theo ý mình. Tức sự sở hữu ở đây được hiểu theo hướng là mình có quyền quyết định cái đó như thế nào.

Cái sai tiếp theo từ hệ lụy của cái chấp đầu tiên là do mình sở hữu nên một khi có chuyện gì xảy ra với cái đó mà chính bản thân mình không thích, không muốn thì mình sẽ đau khổ, tức giận…trạng thái đó không được gọi là giải thoát.

Tiếp đến là để giải quyết những trạng thái tiêu cực kia trong chính con người mình thì lại tạo ra một khái niệm tạm gọi là xả ly, xả bỏ, buông bỏ…bằng cách tạo ra một hướng tư tưởng mới không liên quan tới cái hiện tại và an trú mình vào trong đó. Lấy lại ví dụ chiếc xe ở trên thì giả sử chiếc xe bị mất đi thì tự tạo ra một khái niệm, một hệ tư tưởng mới đại loại là: Của đi thay người, mất cái này ta làm lại cái khác, nó đâu phải của mình đâu nên không có gì phải tiếc…

Tiếp đến là tự cái tôi hay gọi là bản ngã, sĩ diện bản thân hoặc do năng lực bản thân không thể nào giải quyết được tình huống đó như ý, nhưng lại không chấp nhận sự thật đó nên lại tạo ra tiếp một hệ tư tưởng khác rằng: Tôi không có tiếc, đời là hư vô, mọi thứ là vô thường…Hệ tư tưởng này không dễ gì ai cũng chấp nhận được và mặc nhiên nó trở nên khó. Chính cái khó này vô tình tạo ra một cảnh giới khác và người đời họ lại cho rằng đó là đích đến, đó mới chính là chân tu, con đường giải thoát phải như vậy mới là đúng. Rồi từ thế hệ này truyền cho thế hệ khác mặc nhiên cứ thế mà làm, nhưng thực tế không có một ai làm được điều đó, còn làm sao để biết thì thử đặt một câu hỏi như sau: Cũng ví dụ chiếc xe bị mất ở trên mình có lại được thì mình có vui, có mừng không? Có thì tại sao có? Chẳng phải mình vẫn còn chấp niệm vào đó hay sao? Vậy giải thoát chỗ nào?

Toàn bộ quá trình vừa nói trên nó bắt nguồn từ cái hiểu sai ngay từ đầu bởi cái sự sở hữu kia. Bởi mình chấp nhận nó là của mình tự khắc các pháp sẽ sanh tử nối tiếp giống như vừa phân tích ở trên. Để giải quyết tình huống đó cần phải định hình lại sự sở hữu trong lời dạy mà Chư Phật để lại còn lưu truyền trong hệ thống kinh sách hay các bài giảng truyền miệng lại thực sự là như thế nào, từ đó sẽ hiểu ra xả ly là như thế nào, khi đã hiểu đúng tự khắc được giải thoát chứ chẳng có chi là giải thoát.

Ở trường hợp trên thử đặt một câu hỏi như sau là sẽ ra vấn đề ngay: Chiếc xe đó do đâu mà có? Xuất phát điểm có phải là do mình tạo ra hay không? Rõ ràng là chiếc xe đó được lắp ráp từ rất nhiều linh kiện khác nhau, rồi truy ra nguồn gốc linh kiện đó từ đâu nữa, càng truy ra càng thấy không có cái gì liên quan tới mình cả. Nói như vậy có nghĩa là thực tế mình có sở hữu được nó đâu? Đã không có sở hữu mà cho rằng mình sở hữu có phải một chấp niệm hoàn toàn sai không? Từ cái sai này có phải dẫn tới sanh tử phía sau cũng sai luôn không? Tu như vậy làm sao giải thoát?

Sở Hữu nên hiểu nó theo hướng như sau: Nó gắn liền với chính mình, dù mình ở bất kỳ hình hài, trạng thái nào nó cũng gắn liền với mình, nó không hề mất đi dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cũng không một ai thay đổi được nó dù đó là Chư Phật. Sự Sở Hữu như vậy được gọi là cái của Ta, vậy sở hữu đó là sở hữu cái gì thì cần phải đi tìm cho ra mới được. Còn làm sao để tìm thì Tôi mới vừa định nghĩa ở trên đó. Quay lại ví dụ chiếc xe ở trên thì nguyên bản nó đâu phải là chiếc xe? Người thợ máy, công nhân có thể can thiệp thay đổi được chiếc xe đó mà? Hoặc kẻ trộm cũng có thể lấy mất chiếc xe đó mà? Vậy nó vi phạm nguyên tắc sở hữu Tôi nói ở trên thì kết luận được nó không phải của mình. Tương tự như vậy tất tần tật những gì tồn tại trong vũ trụ này tìm xem thử cái nào thỏa mãn được tiêu chí Tôi vừa nói trên thì đó là cái của Ta, tức là có sự sở hữu rõ ràng. Vậy tới đây nếu hiểu rằng tu hành là không có sở hữu là sai hoàn toàn.

Nếu nói có sự sở hữu, tức có cái của ta hay của tôi, vậy thì tại sao Đức Phật (ở đây ý chỉ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật) dạy rằng không sở hữu, nên xả ly? Vậy cái hiểu này nên hiểu như thế nào cho đúng? Tới đây Tôi cần đính chính một điều rằng: Không có Đức Phật nào dạy như vậy cả, nếu có thì phải nói là Kinh Sách lưu truyền lại chép ghi như vậy, và kinh sách này là do hàng đệ tử của Đức Phật ghi chép lại theo cái hiểu của họ và lưu truyền lại cho nhân sinh sau này.

Trong những năm tháng theo THẦY tu học Tôi được nghe THẦY dạy là Lìa Ngã, Lìa Sở Hữu, chứ không có nghe THẦY dạy là không sở hữu hay hạ bản ngã, bỏ bản ngã, buông bỏ. Thời gian đầu Tôi cũng rất thắc mắc về điều này, có trình THẦY chỉ dạy thêm nhưng THẦY im lặng. Vì Tin Vâng Kính trọn nên Tôi không hỏi nữa mà Y Tôn Y Chỉ thi hành theo những gì THẦY đã chỉ dạy đến một ngày Tôi ngộ ra như sau: Chữ Lìa ở đây hiểu ra là đừng để cái gì đó dính vào mình, tức rời, tách biệt nó ra. Nghĩa là cái đó nó vẫn tồn tại nhưng nó không ảnh hưởng tới mình ví dụ: Đừng để tiếng ồn xung quanh ảnh hưởng tới sự tập trung của mình. Nghĩa là mình phải bằng cách nào đó làm cho được điều đó và THẦY dạy Tôi là tập Nhẫn Nhịn – Nhẫn Nhục – Nhẫn Nại, cứ thế mà thi hành đến một ngày kia sẽ đắc quả. Ví dụ người dân sống kế bên ga tàu họ sẽ không bị làm phiền bởi tiếng còi tàu, mà chỉ những người ở nơi khác tới mới bị phiền. Điều này có nghĩa là những người sống ở bến ga tàu họ đã chịu đựng tiếng ồn đó tới mức quen thuộc luôn và không thấy nó ồn nữa.

Từ đây Tôi ngộ ra thêm một điều nữa mà khi ngộ ra Tôi chỉ biết ngồi cười một mình vì có nói cũng không có một ai tin, đó là thay vì hiểu là hạ cái tôi, cái ta xuống thì phải nâng cái tôi, cái ta lên. Mới nghe nó rất ngược đời nhưng lại là chân lý. Thực tế Tôi quan sát được và cũng chính bản thân Tôi cũng đã từng thực hành bỏ hay hạ cái tôi, cái ta (bản ngã) xuống thì nó lại càng ức chế, khó chịu và mãi không làm được. Tôi cứ ngỡ mình tệ nhưng khi nhìn ra bên ngoài kia hầu hết mọi người đều bị giống như Tôi. Chỉ đến khi Tôi nâng bản ngã của mình lên tới một mức độ nào đó mà người đời không một ai chạm vào được nữa tự dưng không còn ai làm Tôi phải khó chịu hay tức giận, sân si gì nữa. Nó cũng không ngoài mấy chữ mà THẦY đã chỉ dạy cho Tôi đó là: Nhẫn Nhịn – Nhẫn Nhục – Nhẫn Nại.

Tôi lấy một ví dụ thực tế để Ông/Bà dễ hình dung như sau: Hằng ngày Ông/Bà đi làm bị người khác ví dụ như sếp, khách hàng…la mắng chẳng hạn. Tại thời điểm đó Ông/Bà rất ức chế, khó chịu…nhưng không thể làm gì khác ngoài việc phải chấp nhận và chịu đựng. Tức lúc này Ông/Bà đã làm được một việc là Nhẫn Nhịn. Chuyện đó hằng ngày vẫn tiếp diễn, người khác nhìn vào thấy Ông/Bà hèn nhát, chê bai, chỉ trích…tức lúc này Ông/Bà đã làm được một việc là Nhẫn Nhục. Cứ thế chuyện cứ lặp đi lặp lại Ông/Bà sẽ quen dần với nó, người khác họ cũng quen dần với điều đó và cũng không nói gì với Ông/Bà nữa hoặc cũng sẽ thay đổi dần cách giao tiếp với Ông/Bà, lúc này Ông/Bà bắt đầu trả lời lại, nói lại được, một lần, hai lần…nhiều lần thì sếp, khách hàng hay người khác sẽ hiểu và chuyện đó cũng sẽ không xảy ra như vậy nữa. Tức là Ông/Bà đã làm được một việc là Nhẫn Nại rồi.

Bài viết liên quan

Leave a Comment